Nông nghiệp công nghệ cao

Nông nghiệp Nhật bản

Trồng Wasabi theo phong cách Nhật Bản

Nông trại Daio ở Nagano, Nhật Bản. Nơi đây cách Tokyo 250 km và mất 3 giờ lái xe hoặc đi tàu để tới. Nagno không chỉ nổi tiếng với Olympics năm 1998 mà còn có nền nông nghiệp hàng đầu Nhật Bản. Nơi đây trồng 1 loại cây có hương vị rất cay nồng – wasabi. Daio là nông trại trồng wasabi lớn nhất nước Nhật và cho phép khách tới tham quan.

Wasabi không trồng ở ruộng mà trồng ở lòng suối, vì chúng cần nguồn nước trong và bóng mát để phát triển. Dòng nước sẽ chảy tới từng bụi cây, sỏi đá giúp rễ, thân cây đứng vững. Để có nguồn nước sạch, nông trại phải dẫn nước từ trên núi xuống. Đây là nguồn nước đến từ lớp tuyết tan bao phủ trên dãy núi Alps.

Bóng râm cũng rất quan trọng. Nông trại Daio che chắn toàn bộ con suối khi có nước từ trên núi chảy xuống. Bên dưới những tấm lưới là cây wasabi.

Wasabi được trồng y như cây mọc trong tự nhiên. Rễ cây không ăn sâu, việc nhổ lên thật dễ dàng. Phần giá trị nhất của wasabi là phần thân, cũng là phần rễ cái của chúng.

Wasabi thật sự và còn tươi, khi nghiền ra có màu xanh như bạc hà. Vị rất mạnh, khác hẳn với những loại wasabi đóng hộp bày bán trong siêu thị. Để hương vị wasabi tươi và ngon nhất, bạn phải ăn trong vòng 15 phút sau khi nghiền. Vị wasabi tươi cay nồng sẽ xộc thẳng lên mũi bạn.

Wasabi tươi được bán trong những siêu thị nông sản tại Nhật với giá rất đắt. Có 1 sự thật là không ai biết được phần thân wasabi to từng nào trước khi được nhô lên. Một phần thân wasabi mất 12 – 18 tháng để lớn. Phần lớn thân wasabi đều nhỏ. Cũng có wasabi lớn nhưng hiếm như kim cương vậy. Một thân wasabi lớn có giá khoảng 2 triệu VNĐ (10.000 Yên).

Người Nhật làm nông nghiệp rất khác biệt. Họ chú trọng đến chất lượng và sức khỏe người tiêu dùng. Vì vậy, người nông dân Nhật cũng thu được những thành quả vô cùng to lớn.

Xem thêm:

Hoa Lily tưới công nghệ cao

Trồng Hoa Lily - Ứng dụng phương pháp nông nghiệp công nghệ cao

Phương pháp trồng hoa trong nhà kính, đã đem lại khá nhiều lợi nhuận cho người dân ở thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Nhờ áp dụng mô hình kỹ thuật công nghệ vào canh tác nông nghiệp, năng suất và chất lượng rau sạch, hoa cắt cành, hoa để chậu của vùng cũng tăng lên. Hãy cùng Ban Công Xanh tìm hiểu phương pháp trồng hoa theo hướng công nghệ cao tại Đà Lạt nhé!

Kỹ thuật trồng hoa Lily trong nhà kính

Với khí hậu ôn hòa, mát mẻ quanh năm, TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng là nơi rất thích hợp phát triển các vựa rau và hoa tươi. Hiện nay, nhiều nhà vườn tại Đà Lạt đang phát triển mô hình trồng hoa Lily áp dụng công nghệ cao, tạo ra sản phẩm hoa tươi vượt trội về chất lượng, kích cỡ và hương thơm.

Tưới hoa Lily trong nhà kính với dây nhỏ giọt
Kỹ thuật chăm sóc hoa Lily trong nhà kính

Khác với kiểu canh tác truyền thống trồng trên đất ngoài ruộng, giống hoa Lily trồng trong nhà kính sẽ được đặt trên các giá thể xơ dừa đã sắp thành từng luống.

Ngay từ lúc xuống giống, người trồng đã tiến hành giăng lưới, phân thành từng ô vuông để nương theo đỡ thân cây, hạn chế tình trạng hoa bị nghiêng, đổ. Vườn hoa sẽ được áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt với đường ống đặt dọc theo các luống. Hệ thống này sẽ dẫn theo nước và phân trực tiếp tới từng gốc hoa Lily để giúp cây phát triển.

Tưới nhỏ giọt-tưới công nghệ cao
Tưới nhỏ giọt cho Hoa Lily trong nhà kính

Tại Đà Lạt, người ta trồng hoa Lily trên các giá thể, giá thể với thành phần chủ yếu là xơ dừa nên rất mềm, xốp lại chứa nhiều chất dinh dưỡng bổ sung cho cây. Ngoài ra, hoa Lily được trồng trong nhà kính, cách ly với môi trường ngoài nên ít mắc các bệnh trên lá, thân cây. Người dân nơi đây cũng hạn chế dùng các loại thuốc trừ sâu, chỉ sử dụng các bẫy dính có màu sắc bắt mắt để dính bắt côn trùng.

Theo kinh nghiệm của người dân Đà Lạt, đất trồng Lily cần duy trì ẩm nên hệ thống phun tưới cũng hoạt động liên tục để cung cấp nước ở mức độ vừa đủ. Người trồng cần thường xuyên nâng lưới nương theo chiều cao của cây, đảm bảo cây phát triển theo đúng luống, hàng theo hướng thẳng đứng.

Tưới phân cho cây nên tưới vào sáng sớm hoặc chiều mát, tránh tưới vào trời nắng sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây, dẫn đến chết cây.

Hoa Lily sau khi xuống giống khoảng 3 tháng là có thể thu hoạch được. Hoa sẽ được cắt khi còn chưa bung nở nhằm đảm bảo đến tay người tiêu dùng mới khoe sắc và tỏa hương thơm. Theo chia sẻ của người nông dân tại Tp. Đà Lạt, để hoa đến tay người tiêu dùng mới nở là một cách đem lại giá trị cho người tiêu dùng.

Hoa Lily trồng trong nhà kính
Hoa Lily tới tay người tiêu dùng mới nở sẽ đem lại giá trị cho người tiêu dùng

Nhờ khí hậu thích hợp kết hợp với quy trình chăm sóc tỉ mỉ, kỳ công của người dân nơi đây, hoa Lily Đà Lạt thường có bông to thơm hơn so với hoa ở nhiều vùng trồng khác. Toàn thành phố đang phát triển khoảng  81 ha hoa Lily theo mô hình nông nghiệp công nghệ cao, cung ứng cho các thị trường Lâm Đồng, TP.HCM, các tỉnh miền Tây Nam Bộ.

Mô hình nông nghiệp công nghệ cao hiện đang là xu hướng nông nghiệp mới hiện nay, không chỉ bắt đầu phát triển ở Việt Nam mà đang lan tỏa trên khắp thế giới.

Ban Công Xanh tin rằng, trong những ngày Tết với sự góp mặt của hoa Lily sẽ đem đến cho các bạn cảm giác thật thư thái, thoải mái.

Nguồn: Thời sự Nông nghiệp sạch

Nông nghiệp đô thị-hướng đi mới nhiều triển vọng

Nông nghiệp đô thị-hướng đi mới nhiều triển vọng

Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của nước ta nói chung, đô thị hóa là một quá trình tất yếu khách quan. Đô thị hóa trong điều kiện tiền công nghiệp hóa ít gắn liền với các yếu tố nội tại làm động lực cho kinh tế đô thị đã làm tăng thêm khó khăn cho các đô thị như: Một bộ phận lao động trong nông nghiệp mất đất sản xuất, trở nên thiếu công ăn việc làm; dân cư từ nông thôn chuyển về đô thị để làm việc, làm gia tăng nhu cầu về lương thực, thực phẩm; ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước…. Đây là các yếu tố đe dọa sự phát triển nhanh và bền vững của đô thị hiện nay. Trong rất nhiều các giải pháp thì phát triển nông nghiệp đô thị (NNĐT) được xem là hướng đi tối ưu để giải quyết các bất cập liên quan trong tiến trình đô thị hóa, hướng tới xây dựng đô thị sinh thái bền vững cho tương lai.

Những hiệu quả quan trọng mà phát triển nông nghiệp đô thị theo hướng bền vững mang lại, đó là: NNĐT góp phần giảm chi phí đóng gói, lưu trữ và vận chuyển nông sản phẩm để cung ứng cho khu vực đô thị. NNĐT đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu về lương thực, rau quả và các loại nông sản phẩm khác một cách trực tiếp, tại chỗ cho cư dân đô thị thay vì phải vận chuyển từ nơi khác đến. Bên cạnh đó, NNĐT có khả năng tạo ra nguồn thực phẩm tươi sống và an toàn, góp phần to lớn vào việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cư dân đô thị. Điều này càng thiết thực trong điều kiện yêu cầu về thực phẩm ngày càng tăng cả về số lượng lẫn chất lượng. Khi tốc độ đô thị hoá tăng nhanh, áp lực về công ăn việc làm cho một bộ phận cư dân mất đất sản xuất nông nghiệp càng trở nên gay gắt. NNĐT có khả năng tận dụng quỹ đất đô thị và sức lao động dôi dư để giải quyết bài toán việc làm và thu nhập.

Ở Việt Nam, do nhu cầu phát triển đô thị và công nghiệp – dịch vụ, quỹ đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp; thực tế này đòi hỏi cần phải thay đổi tư duy sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mở ra hướng phát triển cho NNĐT. Trong khi các cấp chính quyền, các viện, trường, các nhà khoa học vẫn đang tìm hiểu, nghiên cứu thì tự bản thân người dân ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh… đã nghiên cứu, sáng tạo và tìm ra các phương thức sản xuất riêng, phù hợp với điều kiện đất đai mang lại hiệu quả kinh tế cao. Cụ thể, một số loại hình NNĐT như:

– NNĐT tạo GDP trực tiếp: Trồng hoa kiểng, sinh vật cảnh; trồng, chăn nuôi tạo thực phẩm tại chỗ; nông nghiệp công nghệ cao.

– Nông nghiệp tạo GDP gián tiếp: Nông nghiệp phục vụ hoa viên, nhà hàng; nông nghiệp sinh thái, công viên, cây xanh, đô thị; nông nghiệp du lịch nghỉ dưỡng.

Một số mô hình sản xuất NNĐT ở Hà Nội như: Mô hình áp dụng khoa học kỹ thuật vào trồng, mô hình ứng dụng công nghệ tưới tự động-tiết kiệm nước trong  trồng trọt, chăm sóc bưởi Diễn; mô hình trồng cam Canh; chăn nuôi bò sữa… Tại TP. Hồ Chí Minh là: Xây dựng các trung tâm nông nghiệp công nghệ cao như: Khu nông nghiệp công nghệ cao (Củ Chi), Trung tâm Công nghệ sinh học (Quận 12), Trung tâm thủy sản (Cần Giờ), trại thực nghiệm Bò sữa công nghệ cao hợp tác với Israel (Củ Chi)… nhằm tạo ra các giống cây trồng vật nuôi chất lượng cao, đặc sản, phân bón, kỹ thuật để cung cấp cho nhu cầu tại chỗ và thị trường bên ngoài trong tiến trình phát triển NNĐT.

Nông nghiệp đô thị-hướng đi mới nhiều triển vọng-4

Định hướng phát triển nông nghiệp bền vững

Để phát triển bền vững nền nông nghiệp, những năm tới, cần thực hiện một số mục tiêu và giải pháp đột phá sau đây:

Thứ nhất, đổi mới mô hình tăng trưởng, tiếp tục thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới. Việc tái cơ cấu nền nông nghiệp cần tập trung mạnh vào tái cơ cấu đầu tư công và dịch vụ công trong nông nghiệp, tạo ra môi trường thuận lợi cho hình thành có hiệu quả và bền vững chuỗi giá trị nông sản dựa trên lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương; tiếp tục tập trung đầu tư vào kết cấu hạ tầng; nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sản xuất và chế biến nông sản, tập trung phát triển sản phẩm có lợi thế so sánh, có khả năng cạnh tranh và thị trường tiêu thụ; đa dạng hóa thị trường, cả thị trường trong nước và xuất khẩu; đầu tư phát triển nhân lực trong nông nghiệp.

Thứ hai, phải đặt người nông dân vào vị trí trung tâm và vai trò chủ thể để thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới; có cơ chế, chính sách thúc đẩy ứng dụng sâu rộng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý nông nghiệp; phát triển các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất giữa nông dân với nông dân và giữa nông dân với doanh nghiệp, hình thành cánh đồng mẫu lớn, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ. Xây dựng môi trường thuận lợi thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp; chuyển dịch cơ cấu lao động và kinh tế nông thôn.

Thứ ba, đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm, nhất là ở vùng sâu và xa. Gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới. Đầu tư phát triển hệ thống chợ bán buôn, bán lẻ, phát triển và hỗ trợ thương mại, nhất là ở các vùng nông thôn hẻo lánh; hướng dẫn các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp áp dụng tốt bộ quy chuẩn về thực hành nông nghiệp tốt và tăng cường quản lý ở khâu chế biến và lưu thông để bảo đảm lương thực, thực phẩm an toàn.

Thứ tư, để chủ động ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, cần tập trung vào các lĩnh vực như: Nâng cao năng lực quản lý và ứng phó rủi ro liên quan đến thời tiết và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu cũng như các rủi ro về thị trường. Cải thiện hệ thống dự báo, cảnh báo sớm và gắn kết hệ thống này với dịch vụ tư vấn nông nghiệp; thay đổi phương pháp canh tác và lựa chọn giống phù hợp với các vùng đất có những biến đổi khác nhau về khí hậu; xây dựng năng lực nghiên cứu và phát triển để có thể giải quyết được những thách thức mới nảy sinh của quá trình biến đổi khí hậu và nước biển dâng; thúc đẩy thị trường bảo hiểm nông nghiệp, tăng cường khả năng ứng phó của nông dân đối với rủi ro, bảo đảm nông nghiệp ít chịu tác động từ biến đổi khí hậu.

Thứ năm, thực hiện các biện pháp như tăng cường đầu tư công vào các công trình phòng, chống thiên tai, giảm tác động bất lợi về môi trường, tăng cường quản lý nước thải nông nghiệp, tăng cường áp dụng các biện pháp giảm khí thải nhà kính; quán triệt tư duy nền kinh tế xanh trong phát triển nông nghiệp. Tư duy kinh tế xanh đòi hỏi thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh trong nông nghiệp.

“Đô thị hóa là một quá trình tất yếu, không thể không xẩy ra, dù muốn hay không muốn tương lai của thế giới vẫn nằm ở các thành phố”. Đó là kết luận của Hội nghị thượng đỉnh thế giới về đô thị do Liên hợp quốc tổ chức tại Ixtambul (Thổ Nhĩ Kỳ). Thực tế tốc độ đô thị hóa của nước ta nói chung đang diễn ra ngày càng nhanh về cả quy mô và số lượng. Đô thị hóa nhanh trong điều kiện hiện nay của nước ta thực sự làm nảy sinh nhiều bất cập. Phát triển NNĐT được xem là giải pháp tối ưu để giải quyết các bất cập này.

Mặc dù chỉ mới phát triển mạnh từ những năm 70 của thể kỉ XX trở lại đây song NNĐT đã góp phần rất lớn trong chiến lược phát triển bền vững của các đô thị trên thế giới. Ở nước ta nhìn chung NNĐT đã hiện diện song còn ở dạng manh mún, phần lớn là sự sáng tạo của người dân. Mặc dù phạm vi hoạt động chưa rộng, mức độ phát triển chưa cao, chưa toàn diện nhưng hiệu quả kinh tế – xã hội – môi trường của NNĐT đã được chứng minh ở nhiều thành phố thuộc nhiều nước phát triển và đang phát triển trên thế giới. Hy vọng NNĐT sẽ là giải pháp và là hướng đi chiến lược cho sự phát triển nhanh, bền vững của các đô thị trong tiến trình đô thị hóa hiện nay của nước ta.

Lợi ích của tưới phun mưa phủ toàn phần (Bài 2)

Xem Lợi ích của tưới phun mưa phủ toàn phần (bài 1)

Tưới phủ có thể tạo lớp đất tốt hơn
Đất hữu cơ có thể phát huy tốt khi được tưới bằng hệ thống phun mưa

Loại trừ khả năng nứt nẻ.

Đất mặt có thể bị nứt khi thời tiết hanh khô. Hiện tượng nứt nẻ ở đất, trong nhiều trường hợp trở nên rất nghiêm trọng, bởi chúng có thể làm rễ cây bị đứt, hoặc làm lộ lớp rễ dưới thời tiết khô hanh hoặc buốt giá. Đối với một số cây họ đậu, trong mùa thu hoạch, các hạt đậu có thể rơi xuống các khe đất nứt. Khi áp dụng hệ thống tưới phun mưa một cách kịp thời, hiện tượng này sẽ được loại bỏ.

Ngăn chặn bụi

Sự hiện diện của bụi sẽ khuyến khích một số loại côn trùng gây hại phát triển như ve sầu, xén tóc, sâu đất…vì chúng sinh sản ở dưới mặt đất. Đồng thời bụi sẽ bám lấy bề mặt lá, trái làm giảm quá trình quang hợp, hạn chế tổng hợp chất dinh dưỡng. Đặc biệt là những cây trồng lấy hạt, sẽ tốn thêm chi phí làm sạch. Do đó, hệ thống tưới phun mưa toàn phần được sử dụng để hạn chế tác động của bụi.

Áp dụng hóa chất với hệ thống tưới phun mưa phủ đều

Hiệu quả của việc tưới phân bón (dạng nước) qua hệ thống tưới nhỏ giọt đã rất rõ ràng. Khả năng tưới đều ở diện rộng của hệ thống tưới phun mưa Rotator® cũng giúp khả năng tưới phân bón hiệu quả không kém. Hơn thế, tưới phủ thực hiện rất tốt khả năng áp dụng với tưới phân, đạm dạng hạt hay các loại chất hữu cơ khác và giúp rễ cây tiếp nhận một cách nhanh chóng, điều mà tưới nhỏ giọt không thể thực hiện.

Ngăn chặn sự nhiễm mặn

Tưới nhỏ giọt, tưới bán phần chỉ đẩy muối ra quanh vùng đất ướt. Qua thời gian nồng độ muối cao sẽ tập trung ở khu vực lông hút của rễ, điều này sẽ làm hạn chế sự phát triển của hệ rễ cây. Lượng muối này cần loại bỏ khỏi thành phần dưỡng chất của đất. Hệ thống tưới phủ hiệu quả, được sử dụng với mục đích cải tạo đất, và được dùng nhằm đẩy lượng muối xuống sâu dưới tầng lớp rễ.

Cải thiện đất và chất dinh dưỡng trong đất

Cây trồng hữu cơ phát triển dựa vào phân hữu cơ, và sự tổng hợp dinh dưỡng trong đất thông qua quá trình phân hóa các sinh vật hữu cơ có sẵn, vi sinh và vì khuẩn có lợi. Các hoạt động của vi sinh trong đất là rất quan trọng, tuy nhiên nó không thể diễn ra ở vùng đất khô. Tưới mưa toàn phần không những giúp rễ cây tăng cường khả năng hút dưỡng chất sẵn có, nó còn tạo một môi trường tốt hơn cho vi sinh vật tổng hợp chất dinh dưỡng trong đất một cách tự nhiên. Đồng thời, tăng cường hiệu quả phân hóa hữu cơ. Qua thời gian, lớp phủ bề mặt giúp đất tơi xốp, cải thiện cấu trúc đất.

Ngăn chặn rửa trôi chất dinh dưỡng

Giữ chất dinh dưỡng ở vùng phát triển của rễ cây là nhiệm vụ quan trọng của một hệ thống tưới hiệu quả. Khi cây phát triển, lượng nước tưới cho cây thậm chí không đáp ứng đủ so với lượng nước bay hơi khỏi mặt đất. Hiện tượng này thường xảy ra hơn với cây trồng ở vùng đất cát, hay lớp đất mặt mỏng. Với hệ thống tưới bán phần, việc tưới thường xuyên có thể dẫn đến những khó khăn trong việc kiểm soát dinh dưỡng. Điển hình là việc các dưỡng chất như Nitơ, Kali bị rửa trôi, và đẩy sâu xuống dưới lớp rễ.

Xem tiếp Tác dụng tưới phun mưa – bài 3

Nỗ lực xây dựng mô hình tư vấn & báo giá trọn gói hệ thống tưới tự động

Những ngày qua, anh chị em làm việc tại dự án thiết bị tưới nông nghiệp Nelson đã làm việc hết mình với tinh thần sáng tạo – am hiểu nông nghiệp, đã xây dựng hoàn thiện hệ thống khảo sát – tư vấn – báo giá cho hệ thống tưới nông nghiệp.

Theo đó, Quý bà con có thể tham khảo về phương án tưới, tổng mức đầu tư cho mỗi đơn vị diện tích cây trồng qua điện thoại, bằng việc cung cấp thông tin như diện tích, chiều dài, rộng, độ cao của cây, độ giãn cách (mật độ cây trồng), mô hình trồng tại nông trại (theo luống, theo cụm hay rải rác), bộ phận kỹ thuật – kinh doanh sẽ thu thập dữ liệu và trả lại kết quả tức thì.

Với việc đưa ra mô hình tính toán này, bà con có thể biết các thông tin liên quan một cách nhanh chóng và chính xác nhất, bên cạnh đó, đơn vị cung cấp – thi công cũng giảm được đáng kể chi phí đi lại, khảo sát thực địa, điều đó cũng góp phần đáng kể cho việc giảm chi phí – hạ giá thành. Đặc biệt với các hộ nông dân ở cách xa Tp. HCM, có thể dựa vào thiết kế của bộ phận kỹ thuật Nelson để tự xây dựng cho mình một hệ thống tưới tự động với chi phí thấp nhất.

Xin cảm ơn và chúc mừng đội ngũ Kỹ thuật – Kinh doanh Nhabe agri.

Nhabe agri

TP HCM coi nông nghiệp công nghệ cao là then chốt

TPHCM đang có những chính sách hỗ trợ DN đầu tư vào sản xuất nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) để chuyển giao các mô hình ứng dụng hiệu quả cho hơn 1,2 triệu nông dân vùng ven. Việc làm này đang giúp quá trình xây dựng NTM tại TPHCM tạo ra bước đột phá, nhiều xã đang chuyển mình “thay da đổi thịt”…

Kỹ thuật trồng hoa Lan theo công nghệ cao
Nông nghiệp đô thị, đặc thù kinh tế, văn hóa của Tp. HCM.

Từ năm 2009, TP HCM bắt đầu thực hiện Chương trình xây dựng NTM (giai đoạn 2010 -2020) nhằm nâng cao mọi mặt về đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn. Bộ mặt NTM tại 6 xã điểm đến nay đang khẳng định được thế mạnh của mình từ các mô hình ứng dụng công nghệ cao về trồng hoa lan, nuôi bò sữa, sản xuất rau sạch…

Đặc biệt, tại các xã NTM hiện cũng đang được chuyển giao rộng rãi các mô hình NNCNC, theo hướng nông nghiệp đô thị nhằm nâng cao năng suất và thu nhập cho người dân. Cụ thể, nhằm chuyển giao các tiến bộ, KHKT cho nông dân ứng dụng hiệu quả vào sản xuất, TP HCM đã sớm đầu tư xây dựng Khu NNCNC đang đi vào hoạt động chuyển giao hiệu quả. Có nhiều lĩnh vực nghiên cứu của Khu NNCNC như công nghệ sinh học nông nghiệp; canh tác không sử dụng đất, sản xuất giống, bảo quản chế biến, hoa cây cảnh, nấm ăn và nấm dược liệu…

Ngoài ra, Khu NNCNC còn triển khai các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và ươm tạo doanh nghiệp, ươm tạo công nghệ thông qua hai đơn vị trực thuộc là Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển NNCNC và Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp NNCNC.

Các mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như nhân giống hoa, cây kiểng bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào; sản xuất và nhân giống hoa lan cắt cành ứng dụng công nghệ cao; trồng rau sạch (rau ăn lá, rau ăn quả) trong nhà màng trên giá thể, tưới và bón phân tự động…đã được nghiên cứu thành công và sẵn sàng chuyển giao cho người dân ở các địa phương.

Thực tế, xã Tân Thông Hội (huyện Củ Chi) là xã đầu tiên của TP Hồ Chí Minh được BCĐ xây dựng NTM Trung ương chọn làm mô hình thí điểm xây dựng NTM. Sau 4 năm thực hiện và được chuyển giao NNCNC, đến nay nhiều hộ nông dân đã phát huy lợi thế vùng ven ứng dụng hiệu quả nhiều mô hình chuyển đổi cây trồng từ lúa sang trồng rau, nhất là trồng hoa lan; từ nuôi heo sang nuôi bò, nuôi trăn, cá sấu… Đơn cử như mô hình hoa lan của ông Nguyễn Văn Xuân, ấp Trung là một điển hình. Với diện tích vườn lan 3.000 m2, vốn đầu tư 1,1 tỉ đồng, từ năm 2009 đến nay, mỗi năm ông Xuân có thu nhập từ bán hoa lan lên đến 700 triệu đồng. Gia đình anh Nguyễn Văn Ngà, ở ấp Trung, trồng 3.000 m2 lan Mokara cắt cành, thu nhập mỗi tuần 9 triệu đồng… Hiện nay, bình quân thu nhập của một người dân Tân Thông Hội đạt 28,66 triệu đồng/năm, cao gấp 1,54 lần so với trước khi triển khai đề án. Thu nhập cao từ sản xuất nông nghiệp, Tân Thông Hội đến nay không còn hộ nghèo, không còn nhà tranh tre tạm bợ, bộ mặt nông thôn ngoại thành nay đã thay đổi rõ rệt.

TS.Nguyễn Hải An, GĐ Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp NNCNC TP HCM cho biết: Hiện mỗi năm Trung tâm mở rất nhiều khóa tập huấn đào tạo giúp cho các DN đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp giải quyết những vấn đề khó khăn ngay khi chập chững thành lập. Trung tâm phối hợp các tổ chức tài chính, tổ chức khoa học – công nghệ, đội ngũ cán bộ KHKT, nhà quản lý có khả năng và kinh nghiệm trong xây dựng kế hoạch kinh doanh, luật pháp, kế toán, công nghệ… để giúp các DN hoàn thiện sản phẩm, giảm chi phí hoạt động, dễ dàng tiếp cận các nguồn đầu tư, mạng lưới các đối tác, mở rộng hoạt động, thị trường và phát triển kinh doanh.

Trong năm 2012, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển NNCNC (BQL Khu NNCNC) cũng đã chuyển giao được khoảng 2 triệu cây lan hồ điệp, 300.000 cây lan Dendrobium và 201.000 cây ớt giống. Nhiều mô hình trình diễn và chuyển giao ứng dụng phương thức canh tác mới cho năng suất tăng gấp 2 lần so với cách làm cũ. Công nghệ tưới nước nhỏ giọt của Israel được áp dụng phổ biến giúp tiết kiệm 60% lượng nước và có thể tự động hóa. Những kết quả này đã được chuyển giao tới người dân ở nhiều địa phương, nhất là các xã NTM trên địa bàn TP.HCM hay những tỉnh lân cận.


Ứng dụng công nghệ cao trong nghiên cứu và sản xuất NNCNC ở TP.HCM

Ông Phạm Đình Dũng, GĐ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển NNCNC TP.HCM cho biết: Chúng tôi đang thực hiện chuyển giao quy trình canh tác và cây giống sạch bệnh gồm lan, ớt, dưa leo, rau ăn lá và rau ăn quả…cho người dân hay các trang trại ở vùng ven ngoại thành TP. Công tác tập huấn cũng được chuyển giao thường xuyên cho các Hội nông dân không chỉ ở TP.HCM mà cả tỉnh như Lâm Đồng, Bạc Liêu… để tuyên truyền, giới thiệu, khuếch tán NNCNC. Đặc biệt là về các lĩnh vực trồng lan, nuôi cấy mô, nhân giống đạt hiệu quả cao nhất. Trung tâm còn liên kết với các DN bao tiêu thu mua lại các sản phẩm cho nông dân để xuất khẩu, mục tiêu cũng nhằm thúc đẩy chương trình nông thôn mới cho các địa phương.

+ Bà Lê Thị Hồng Hoanh cho biết: Cũng như nhiều tỉnh thành khác, khó khăn nhất trong phát triển NTM ở TP.HCM cũng là nguồn vốn. Hiện, TP đang chỉ đạo rà soát lại các quỹ đất trên địa bàn, nếu những diện tích đất nào không còn quy hoạch sử dụng cho các mục đích xây dựng trường học, cơ sở vật chất văn hóa… thì có thể cho bán đấu giá để tạo một khoản tiền đầu tư cơ sở hạ tầng.

+ Từ kết quả thí điểm mô hình xây dựng NTM ở xã Tân Thông Hội (huyện Củ Chi), TP HCM đã xây dựng thêm 5 xã điểm NTM nữa là: Thái Mỹ (huyện Củ Chi), Xuân Thới Thượng (huyện Hóc Môn), Tân Nhựt (huyện Bình Chánh), Nhơn Đức (huyện Nhà Bè) và xã Lý Nhơn (huyện Cần Giờ). Từ 6 xã NTM này, TP.HCM sẽ nhân rộng việc xây dựng NTM trên địa bàn 52 xã còn lại, phấn đấu hoàn thành các tiêu chí vào năm 2015, cả 58 xã đều đạt tiêu chí NTM.

Ông Trần Phước Dũng, Trưởng BQL Khu NNCNC TP HCM cho biết: “Thành phố xác định chức năng đầu tiêu của khu NNCNC là hỗ trợ. Nhà nước sẽ hỗ trợ thông qua công nghệ, huấn luyện đào tạo, nghiên cứu ứng dụng, xây dựng mô hình trình diễn, cung cấp giống có chọn lọc, khảo nghiệm thích hợp điều kiện tự nhiên. Chức năng thứ hai là dẫn dắt, quảng bá cách làm NNCNC. Để làm được việc này khu phải kêu gọi được các nhà đầu tư thứ cấp, có vốn, có công nghệ đáp ứng tiêu chí vào đây để sản xuất, kinh doanh. Xuất phát từ lợi ích của mình, các nhà đầu tư thứ cấp sẽ quảng bá hình ảnh, thương hiệu sản xuất NNCNC ra bên ngoài. Đồng thời tổ chức khoá huấn luyện đào tạo, chuyển giao nhân lực, chuyển giao giống ra bên ngoài để thúc đẩy sản xuất hàng hoá lớn. Việc chuyển giao, hỗ trợ, dẫn dắt mô hình sản xuất NNCNC dần dần sẽ tạo ra nhận thức sản xuất, tạo ra nhiều DN ứng dụng CNC. Do vậy, việc ứng dụng NNCNC để giải quyết bài toán kinh tế, đời sống vùng nông thôn đã và đang giúp người nông dân TPHCM nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ sản xuất, góp phần xây dựng NTM.

Trao đổi với NNVN, bà Lê Hồng Hoanh, Phó GĐ Sở NNPTNT TP.HCM, Ủy viên BCĐ NTM TP.HCM, cho biết: “Để thực hiện chủ trương về chuyển dịch kinh tế nông nghiệp trên địa bàn, TP sẽ khuyến khích các cây trồng vật nuôi phù hợp với xu hướng đô thị hóa. TP đang có chủ trương hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, chuồng trại đào ao nuôi cá; khuyến khích các DN ký hợp đồng đầu tư xây dựng nhà kho, sơ chế và bảo quản sản phẩm hoặc cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và hỗ trợ 100% lãi suất cho sản xuất giống”.

Theo bà Hoanh, đất nông nghiệp của TP HCM đang bị thu hẹp nhưng tỉ lệ hộ dân gắn với nông nghiệp vẫn còn nhiều với gần 330.000 hộ, khoảng trên 1,2 triệu người ở vùng ngoại thành. Do vậy, TP đặt ra yêu cầu bằng mọi giá phải nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển NNCNC. Ngoài ra, tập trung chuyển đổi sản xuất theo hướng nông nghiệp đô thị, tìm ra những cây – con tạo giá trị kinh tế cao nhất trên một đơn vị diện tích.

Theo www.nongnghiep.vn

3.600 tỷ đồng đầu tư cho nông nghiệp công nghệ cao

Chương trình nông nghiệp công nghệ cao của tỉnh Lâm Đồng đã góp phần nâng cao trình độ sản xuất nông nghiệp trên quy mô lớn. Nhận thức của người dân được nâng cao thông qua các khóa đào tạo chuyên sâu, năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi tăng cao

Nông nghiệp công nghệ cao Lâm Đồng
Nông nghiệp công nghệ cao Lâm Đồng

Qua tám năm thực hiện, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cho chương trình nông nghiệp công nghệ cao của tỉnh đạt trên 3.600 tỷ đồng, vượt 38% so với kế hoạch vốn chương trình.

Thông tin trên được tiến sỹ Phạm S, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, cho biết tại hội thảo quốc tế “Khoa học và công nghệ phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tỉnh Lâm Đồng” được tổ chức ngày 29/3 tại Lâm Đồng.

Nhờ ứng dụng khoa học-công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đến nay giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân trên đơn vị diện tích canh tác của Lâm Đồng đạt gần 90 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 2,3 lần bình quân cả nước.

Hiện toàn tỉnh có 150.000ha cho doanh thu trên 90 triệu đồng/ha/năm, trong đó trên 10.000ha có doanh thu từ 200 triệu đến 2 tỷ đồng/ha/năm.

Trên nền công nghệ mới, cơ điện hóa, tự động hóa, chế biến sâu đã cho ra nhiều nhóm sản phẩm ngày càng có lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh cao, như trà B’Lao, càphê Di Linh, rau-hoa Đà Lạt, chuối La Ba và nhiều sản phẩm mới phong phú, triển vọng cho sản xuất công nghệ cao như cá nước lạnh, sâm Đà Lạt, cam đường không hạt, chè dược liệu Thiên Kim Trà, Diệp Hạ Châu…

Tại Lâm Đồng, nhiều công nghệ mới về canh tác (bón phân điều tiết, phân vi sinh, quản lý bảo vệ thực vật, chiếu sáng bổ sung, chiếu sáng phối hợp đơn sắc tiết kiệm điện, tưới tiết kiệm, hệ thống nhà kính, nhà lưới…), chọn giống cây trồng, vật nuôi mới, tầm soát sớm dịch bệnh đã được áp dụng ở nhiều vùng, nhiều doanh nghiệp.

Hiện diện tích ứng dụng công nghệ cao trên các loại cây trồng của tỉnh là trên 26.000ha, đứng đầu cả nước về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao.

Nhiều công nghệ đã được ứng dụng thành công trong thực tiễn như công nghệ sinh học, phát triển ứng dụng công nghệ sản xuất cây giống invitro chất lượng cao, ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất càphê vối, khoa học công nghệ hạt nhân ứng dụng trong nông nghiệp, phát triển và ứng dụng công nghệ Led trong nghiên cứu tái sinh và nhân giống thực vật

Nông nghiệp công nghệ cao: Đầu tư nhiều, thu lãi khủng

Thành công của nhiều doanh nghiệp (DN) với mô hình ứng dụng công nghệ cao kết hợp cơ chế hợp tác công – tư cho thấy, nông nghiệp vẫn là “mảnh đất vàng”.

Thiết bị tưới nông nghiệp tự động Nelson R5
Thiết bị tưới nông nghiệp tự động Nelson R5
Thu nhập 1,5 tỷ đồng/ha/năm

Tập đoàn TH là một trong 3 DN được cấp giấy chứng nhận DN nông nghiệp công nghệ cao trong cả nước. Bà Thái Hương, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn TH cho hay: “Ở Việt Nam, các DN không muốn mạo hiểm đầu tư vào nông nghiệp vì cho rằng, việc đầu tư vào lĩnh vực này có xác suất rủi ro khá cao, bởi phụ thuộc quá nhiều vào thiên nhiên, vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm. Vì vậy, cách duy nhất thay đổi bức tranh nông nghiệp lạc hậu và lối tư duy cũ trên là đưa công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp”.

Bằng cách nhập khẩu toàn bộ bí quyết công nghệ cùng kỹ thuật chăn nuôi bò sữa của Israel, xây dựng nhà máy chế biến sữa công nghệ hiện đại nhất thế giới, Tập đoàn TH đã chứng minh hiệu quả bất ngờ khi đầu tư vào nông nghiệp. Giá trị canh tác mỗi năm của vùng đất Nghĩa Đàn (Nghệ An) trước đây chỉ khoảng 50- 70 triệu đồng/ha, sau khi Tập đoàn TH trồng cao lương, ngô chất lượng cao… đã tăng lên hơn 20 lần (từ 500 triệu đến 1,5 tỷ đồng/ha). Chỉ sau 2 năm hoạt động, TH True Milk đã đạt doanh thu 2.000 tỷ đồng, nộp thuế 205 tỷ đồng. Theo kế hoạch, sau 7 năm hoạt động, đến năm 2017, Công ty đạt doanh thu 23.000 tỷ đồng – mức tăng trưởng trong mơ với ngay cả các DN trong những lĩnh vực được coi là “béo bở”.

Không chỉ Tập đoàn TH, nhiều DN khác cũng đã thành công trong ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Nhiều mô hình sản xuất hoa, cây cảnh công nghệ cao tại Hà Nội, Đà Lạt, TP.HCM đã mang lại cho người dân thu nhập từ 600 triệu đến 1 tỷ đồng/ha/năm.

Tại Diễn đàn Đối thoại chính sách về “Ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp thông qua đối tác công tư” được tổ chức cuối tuần trước, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát khẳng định, Bộ luôn coi trọng phát triển nông nghiệp công nghệ cao là yếu tố thúc đẩy tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.

“Tôi hy vọng, sẽ có sự tham gia tích cực hơn của nhiều DN, đặc biệt là DN tư nhân, DN FDI vào lĩnh vực này. Thời gian tới, Bộ cũng sẽ thúc đẩy mô hình hợp tác công tư để ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp hiệu quả”, Bộ trưởng Cao Đức Phát nhấn mạnh.

Nhà nước cần vào cuộc

Đầu tư nông nghiệp công nghệ cao có tiềm năng thu lợi rất lớn. Tuy vậy, đây cũng được coi là yếu tố “cách mạng” trong sản xuất nông nghiệp, đồng nghĩa với đòi hỏi DN và các địa phương phải vượt qua nhiều thách thức, đặc biệt là vốn, tư duy và quỹ đất.

PGS-TS. Nguyễn Đăng Vang, Ủy viên Hội đồng Chính sách khoa học và công nghệ quốc gia cho rằng, ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn. Trong khi đó, chính sách tín dụng với nông nghiệp ở nước ta chưa rõ ràng khiến DN và nông dân rất khó tiếp cận vốn.

Đồng tình với ý kiến này, bà Thái Hương kiến nghị thêm, Chính phủ cần ban hành những chính sách khác biệt trong vòng 3-5 năm để khích lệ DN đầu tư ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp. Chính quyền các địa phương cũng phải coi đây là cuộc cách mạng công nghệ cao để vào cuộc mạnh mẽ cùng nhà đầu tư, phải hỗ trợ để bàn giao cho DN ít nhất 70% đất sạch để thực hiện dự án. Bên cạnh đó, cần ban hành quy chuẩn kỹ thuật về sản phẩm hàng hóa nông nghiệp công nghệ cao, tạo lợi thế cạnh tranh cho DN để khuyến khích đầu tư.

Về phía chính quyền địa phương, ông Phan Đình Trạc, Bí thư tỉnh Nghệ An khẳng định, đưa được DN vào đầu tư nông nghiệp công nghệ cao giúp giải quyết 5 vấn đề: vốn cho sản xuất nông nghiệp; đầu ra cho sản phẩm; đào tạo tay nghề cho nông dân; hạn chế tác hại của thiên nhiên; giúp nông dân yên tâm định canh định cư, xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, để thu hút được DN đầu tư vào lĩnh vực này, phải làm được ba việc chính: tạo quỹ đất lớn và tập trung cho DN; dẹp bỏ được tư tưởng bảo thủ, hẹp hòi; xóa bỏ lối canh tác “ăn xổi”. Kinh nghiệm tạo quỹ đất lớn của Nghệ An là khuyến khích hình thức cho thuê quyền sử dụng đất dài hạn.

Theo Hà Tâm

Báo đầu tư

Tưới nông nghiệp; Tưới phun mưa; Tưới nông nghiệp fanpage; Tưới cảnh quan fanpage; tưới tự động video; Tưới tự động; Tài liệu tưới tự động;

Theme Settings